Thực hiện Kế hoạch số 08/KH-UBND ngày 13/01/2026 của Ủy ban nhân dân xã Lộc Thành về Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2026 trên địa bàn,
Để Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu quả, lan tỏa tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật rộng rãi; giúp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân nắm bắt được thông tin, Ủy ban nhân dân xã triển khai Đề cương sinh hoạt “Ngày Pháp luật” tháng 5/2026, như sau:
I. Phổ biến một số nội dung của chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 5/2026
1. Quy định mới về thay đổi hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi
Trước đây, hạn mức trả tiền bảo hiểm được quy định tại Điều 3 Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg ngày 20/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về hạn mức trả tiền bảo hiểm như sau:
Số tiền tối đa tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 125.000.000 đồng.
Theo quy định mới, căn cứ khoản 1 Điều 22 Luật bảo hiểm năm 2025, quy định: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trong từng thời kỳ.
Như vậy, Luật mới giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện quyền quyết định hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi theo từng thời kỳ để phù hợp với điều kiện thực tế. Việc trao quyền điều chỉnh hạn mức cho Thống đốc giúp cơ quan quản lý linh hoạt hơn trong các giai đoạn kinh tế, phản ứng nhanh với biến động thị trường và lạm phát, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền.
2. Quy định mới về tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phép cho vay đặc biệt với lãi suất 0%
Theo đó, tại khoản 1 Điều 38 Luật Bảo hiểm năm 2025, quy định về vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như sau:
Thứ nhất, tổ chức bảo hiểm tiền gửi được vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm.
Thứ hai, số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm được xác định khi tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã sử dụng hết số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.
Thứ ba, việc bán giấy tờ có giá chưa đến hạn, rút các khoản tiền gửi chưa đến hạn phải bảo đảm nguyên tắc bảo toàn vốn trong hoạt động đầu tư.
Như vậy, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng được phép cho vay đặc biệt với lãi suất 0% đối với các ngân hàng tham gia bảo hiểm, nhằm hỗ trợ kịp thời khi tổ chức tín dụng gặp khó khăn về thanh khoản. Đồng thời, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể vay từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất 0%, không cần tài sản bảo đảm để thực hiện chi trả sớm khi quỹ dự phòng không đủ đáp ứng.
3. Quy định mới về các trường hợp được miễn, giảm đóng kinh phí công đoàn
Tại Nghị định số 105/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công đoàn về tài chính công đoàn (sau đây ghi là Nghị định số 105/2026/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/5/2026.
Theo đó, tại Điều 11 Nghị định số 105/2026/NĐ-CP, quy định doanh nghiệp được miễn đóng kinh phí công đoàn trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện giải thể theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Hợp tác 2023 xã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh xem xét và ban hành quyết định miễn số tiền chưa đóng kinh phí công đoàn theo quy định phân cấp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khi công đoàn tham gia phương án giải quyết nợ (trong đó có nợ đóng kinh phí công đoàn) của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện giải thể.
Thứ hai, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện phá sản theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Hợp tác 2023, Luật Phá sản 2014, Luật Phục hồi, phá sản 2025 được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh xem xét và ban hành quyết định miễn số tiền chưa đóng kinh phí công đoàn theo quy định phân cấp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khi công đoàn nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Đối với các trường hợp doanh nghiệp được xem xét giảm mức đóng kinh phí công đoàn nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 12 như sau:
Thứ nhất, đã hết thời gian tạm dừng đóng kinh phí công đoàn.
Thứ hai, tiếp tục cắt giảm lao động với quy mô lớn như: Từ 30% lao động hoặc từ 30 người trở lên (đơn vị dưới 200 lao động). Từ 50 người trở lên (đơn vị từ 200 đến 1.000 lao động). Từ 100 người trở lên (đơn vị trên 1.000 lao động).
Như vậy, mức giảm tối đa là 20% mức đóng theo quy định của Luật Công đoàn. Thời gian giảm theo tháng và không quá 06 tháng. Hết thời gian này, đơn vị phải đóng lại theo mức bình thường.
Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 13 Nghị định số 105/2026/NĐ-CP, quy định các trường hợp được xem xét tạm dừng đóng kinh phí công đoàn tại khoản 3 Điều 30 Luật Công đoàn 2024 được quy định như sau: Gặp khó khăn do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc khủng hoảng, suy thoái kinh tế hoặc thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế. Gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mùa.
4. Quy định về hướng dẫn quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Tại Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 của Chính phủ Quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung (sau đây ghi là Nghị định số 85/2026/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/5/2026.
Theo đó, tại Điều 6 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP quy đinh hướng dẫn quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung như sau:
Thứ nhất, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận và thông báo, lấy ý kiến người lao động. Sau khi thống nhất, người sử dụng lao động ký văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với từng người lao động hoặc ký với Chủ tịch Công đoàn sau khi lấy ý kiến tập thể người lao động theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
Thứ hai, người sử dụng lao động ký hợp đồng tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí. Căn cứ danh sách người lao động tham gia chương trình, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí mở tài khoản hưu trí cá nhân cho người lao động.
Thứ ba, căn cứ vào chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký và văn bản thỏa thuận với người lao động, người sử dụng lao động đóng phần đóng góp của người sử dụng lao động (nếu có) và phần người lao động ủy thác cho người sử dụng lao động đóng hộ (nếu có) vào quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung và thông báo cho doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí về số tiền đóng cho từng người lao động theo quy định.
5. Quy định mới về mức phạt tiền đối với doanh nghiệp không thông báo tập trung kinh tế
Tại Nghị định số 102/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh (sau đây ghi là Nghị định số 102/2026/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/5/2026.
Theo đó, Nghị định số 102/2026/NĐ-CP, quy định bổ sung yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ và trung thực. Đồng thời, các doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các điều kiện trong quyết định về tập trung kinh tế theo quy định của Luật Cạnh tranh.
Như vậy, doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế mà không thông báo theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, tùy thuộc vào tổng tài sản và doanh thu của doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam.
6. Quy định về doanh nghiệp được xem xét giảm lãi khi phải trả nợ thay bảo lãnh ngân hàng
Tại Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, (sau đây ghi là Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/5/2026
Theo đó, Điều 20 Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg được sửa đổi bởi Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg như sau:
Khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, doanh nghiệp phải nhận nợ và ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Sau đó, doanh nghiệp trở thành bên nhận nợ vay tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Đáng chú ý, căn cứ tình hình tài chính, hoạt động và khả năng trả nợ, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được xem xét miễn, giảm lãi đối với khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Trường hợp áp dụng miễn, giảm lãi, ngân sách nhà nước không cấp bù lãi suất và phí quản lý.
Việc xử lý rủi ro đối với khoản nợ vay thực hiện theo cơ chế xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Nguồn: Sưu tầm và biên tập từ:
Trang thông tin điện tử tại địa chỉ website:
Tác giả: UBND xã Lộc Thành
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập