Để Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu quả, lan tỏa tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật rộng rãi; giúp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân nắm bắt được thông tin, Ủy ban nhân dân xã triển khai Đề cương sinh hoạt “Ngày Pháp luật” tháng 6/2026, như sau:
I. Phổ biến một số nội dung của chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 6/2026
1. Quy định mới về thôn, tổ dân phố và phụ cấp người hoạt động không chuyên trách
Tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (sau đây ghi là Nghị định số 185/2026/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/5/2026.
Theo đó, tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, quy định bãi bỏ các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP.
Đáng chú ý, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, quy định lại toàn diện về mô hình tổ chức thôn, tổ dân phố; số lượng người hoạt động không chuyên trách; tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và cơ chế phụ cấp tại cơ sở.
Như vây, tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, quy định người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm các chức danh: Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Bí thư Chi bộ; Trưởng Ban Công tác Mặt trận, đồng thời mỗi thôn, tổ dân phố không quá 03 người hoạt động không chuyên trách.
Đối với về chế độ phụ cấp, tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp hàng tháng (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội) đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Trong đó, mức khoán bằng 08 lần mức lương cơ sở được áp dụng đối với:
Thứ nhất, thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên;
Thứ hai, tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên;
Thứ ba, thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng;
Thứ tư, thôn, tổ dân phố thuộc khu vực biên giới, hải đảo;
Thứ năm, thôn đặc biệt khó khăn.
Đối với các trường hợp còn lại, quỹ phụ cấp được khoán bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP còn cho phép trường hợp tỉnh, thành phố sử dụng ngân sách địa phương để quy định mức khoán quỹ phụ cấp cao hơn mức khoán của ngân sách nhà nước thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức khoán cụ thể phù hợp với khả năng cân đối của địa phương và không phải xin ý kiến các bộ, ngành trung ương.
Đối với chế độ, chính sách của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định các đối tượng này được hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Đồng thời, khoản 4 Điều 16 quy định người hoạt động không chuyên trách nghỉ việc do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố được hưởng chính sách theo quy định về tinh giản biên chế.
Đồng thời, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP cũng bổ sung yêu cầu mới đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố. Cụ thể, khoản 4 Điều 7 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định người đảm nhiệm chức danh này phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; có khả năng lập kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo và thực hiện nhiệm vụ theo quy định.
Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 3 và điểm e khoản 2 Điều 5 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP còn bổ sung yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của thôn, tổ dân phố và hỗ trợ người dân sử dụng các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến.
2. Triển khai đồng loạt sử dụng xăng E10 trên phạm vi cả nước
Tại Thông tư số 50/2025/TT-BTC ngày 07/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Công thương Quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam (sau đây ghi là Thông tư số 50/2025/TT-BTC), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026.
Theo đó, tại Điều 4 Thông tư số 50/2025/TT-BTC quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học và nhiên liệu truyền thống bắt đầu từ ngày 01/6/2026, xăng không chì (theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành) phải phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc.
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất từ Sửa đổi 01:2026 QCVN 01:2022/BKHCN là việc điều chỉnh thành phần của xăng E10. Theo quy chuẩn mới, xăng E10 được xác định là hỗn hợp của xăng không chì và etanol nhiên liệu với hàm lượng etanol từ 8,0% đến 10,0% theo thể tích.
Trong khi đó, theo QCVN 01:2022/BKHCN trước đây, hàm lượng etanol trong xăng E10 được quy định từ 9% đến 10% theo thể tích. Như vậy, quy chuẩn mới đã giảm ngưỡng tối thiểu từ 9% xuống còn 8%, đồng nghĩa với việc khoảng phối trộn được mở rộng hơn nhưng vẫn duy trì mức tối đa 10%.
Không chỉ thay đổi về tỷ lệ etanol, quy chuẩn sửa đổi còn điều chỉnh nhiều nội dung kỹ thuật liên quan đến xăng sinh học. Đáng chú ý, tổng hàm lượng oxy trong xăng E10 được quy định không lớn hơn 4,0% khối lượng đối với tất cả các mức chất lượng. Quy định này sẽ chính thức áp dụng từ ngày 01/01/2027.
So với quy định trước đây, đây là sự thay đổi đáng chú ý khi giới hạn oxy tăng từ 3,7% lên 4,0% khối lượng. Đồng thời, quy chuẩn mới cũng bổ sung quy định làm rõ tổng hàm lượng oxy phải bao gồm cả lượng oxy có trong etanol nhiên liệu.
Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến hợp chất oxygenat sử dụng trong xăng cũng được sửa đổi. Theo quy chuẩn mới, ngoài etanol nhiên liệu biến tính hoặc không biến tính, chỉ các hợp chất được quy định trong danh mục mới được phép sử dụng trong xăng không chì, xăng E5 và xăng E10.
Một thay đổi đáng chú ý khác là metanol không còn được quy định ở mức “không phát hiện” như trước mà được phép tồn tại ở mức không lớn hơn 0,3% thể tích. Trong khi đó, một số thành phần từng được quy định trước đây như aceton hoặc hỗn hợp sec-butyl acetat và n-butyl acetat không còn xuất hiện trong danh mục sửa đổi.
Ngoài việc sửa đổi các chỉ tiêu kỹ thuật, quy chuẩn cũng cập nhật phương pháp thử theo tiêu chuẩn ASTM quốc tế nhằm phục vụ việc xác định chất lượng nhiên liệu. Trong đó, phương pháp TCVN 7332 tương ứng ASTM D4815 tiếp tục được áp dụng để xác định hàm lượng etanol và các hợp chất oxygenat trong xăng E10
3. Quy định mới về dừng cấp thẻ bảo hiểm y tế bản giấy
Theo Công văn số 168/BHXH-QLT của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, từ ngày 01/6/2025, cơ quan BHXH sẽ không cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) bản giấy cho người tham gia. Thay vào đó, người dân sẽ sử dụng thẻ BHYT điện tử trên ứng dụng ứng dụng BHXH số (VssID) hoặc ứng dụng định danh điện tử (VNeID) khi đi khám, chữa bệnh.
Những trường hợp đề nghị cấp lại, cấp đổi thẻ BHYT sẽ được cán bộ BHXH trực tiếp hướng dẫn người tham gia cài đặt VssID, VNeID và hướng dẫn sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên các ứng dụng để đi khám, chữa bệnh thay cho bản giấy. Để bảo đảm quyền lợi và tránh gián đoạn trong quá trình khám, chữa bệnh, người dân cần thực hiện các bước sau: Cài đặt ứng dụng VssID hoặc VNeID trên điện thoại thông minh để có thể sử dụng hình ảnh thẻ BHYT điện tử thay cho thẻ giấy. Liên kết thông tin BHYT với căn cước công dân có gắn chip để bảo đảm dữ liệu được đồng bộ. Việc triển khai này là bước đi thực sự phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số của BHXH Việt Nam. BHXH Việt Nam sẽ chỉ cấp thẻ BHYT giấy đối với những trường hợp không thể cài đặt VssID, VNeID và không có căn cước công dân có gắn chip.
Quy định này nằm trong chương trình chuyển đổi số của BHXH Việt Nam, thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, hướng tới mục tiêu hiện đại hóa quy trình và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người tham gia BHYT.
Về ứng dụng VssID, hiện nay, hầu hết tài khoản đã được xác thực với dữ liệu về dân cư, cập nhật số căn cước công dân. Với tài khoản chưa được cập nhật, người dùng có thể cập nhật số căn cước công dân hay mã số định danh cá nhân đối với người tham gia BHXH, BHYT vào ứng dụng VssID. Việc cập nhật số căn cước công dân vào tài khoản VssID BHXH không chỉ giúp đồng bộ thông tin mà còn giúp quá trình tra cứu và hưởng các chế độ bảo hiểm diễn ra thuận tiện hơn. Sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID giúp việc khám, chữa bệnh BHYT đối với người bệnh cũng như cơ sở y tế trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Đáng chú ý, việc này giúp giảm thời gian kê khai thông tin, đối chiếu dữ liệu khi khám, chữa bệnh một cách tối đa. Đồng thời tránh được việc phải làm thủ tục cấp lại thẻ BHYT giấy, giảm nguy cơ bị mất, hỏng thẻ BHYT giấy thông thường.
4. Quy định mới về chứng nhận đăng ký xe điện tử được tích hợp trên VNe Traffic, VNeID
Tại Thông tư số 37/2026/TT-BCA ngày 24/4/2026 của Bộ trưởng Bộ Công an Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về đăng ký, kiểm định phương tiện (sau đây ghi là Thông tư số 79/2024/TT-BCA), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/6/2026.
Theo đó, tại khoản 6 Điều 3 Thông tư số 79/2024/TT-BCA được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 37/2026/TT-BCA quy định:
Thứ nhất, việc nhận kết quả đăng ký xe được thực hiện thông qua Cổng dịch vụ công hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc nhận trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe theo nhu cầu của chủ xe.
Thứ hai, dữ liệu điện tử chứng nhận đăng ký xe được tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia, ứng dụng giao thông trên thiết bị số dành cho công dân do Bộ Công an quản lý, vận hành (VNeTraffic).
Như vậy, từ ngày 8/6/2026, giấy đăng ký xe sẽ được tích hợp trên VNeID. Do đó, việc tích hợp giấy đăng ký xe trên VNeID giúp người dùng tra cứu thông tin phương tiện nhanh chóng và thuận tiện hơn ngay trên điện thoại thay vì phải mang theo giấy tờ bản cứng.
5. Quy định về việc bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
Tại Nghị định số 144/2026/NĐ-CP ngày 05/5/2026 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ (sau đây ghi là Nghị định số 144/2026/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2026.
Theo đó, tại Điều 1, Điều 2 Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung các sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng tại khoản của Điều 4 Nghị định số 81/2025/NĐ-CP, bao gồm:
Thứ nhất, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác.
Thứ hai, bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản.
Thứ ba, tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.
Thứ tư, doanh thu hoa hồng môi giới dịch vụ bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
6. Quy định mới về doanh thu khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với tổ chức tín dụng, chứng khoán kinh doanh bảo hiểm
Được quy định tại Điều 3 Nghị định số 144/2026 bổ sung vào khoản 2 Điều 23 Nghị định số 181/2025, theo đó hướng dẫn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa trong một số trường hợp đặc biệt như sau:
Thứ nhất, doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Thứ hai, doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Thứ ba, doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng (nếu có).
7. Quy định về khoản trả chậm, trả góp trên 5.000.000 đồng chưa đến hạn thanh toán vẫn được khấu trừ VAT đầu vào
Tại Điều 4 Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong trường hợp mua trả chậm, trả góp tại điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP như sau:
Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 5.000.000 đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Nguồn: Sưu tầm và biên tập từ:
Trang thông tin điện tử tại địa chỉ website:
https://vnexpress.net/chinh-sach-noi-bat-co-hieu-luc-tu-thang-6-4892370.html
https://luatvietnam.vn/thue-phi-le-phi/chinh-sach-moi-ve-thue-co-hieu-luc thang-6-2026-565-109216-
Tác giả: UBND xã Lộc Thành
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập